Tăng cường quản lý Nhà nước về nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế (phần 1) Email
Thứ tư, 14 / 12 / 2011

Hoạt động quản lý Nhà nước

Quản lý nhà nước (QLNN) về hoạt động nhập khẩu (NK) là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực của Nhà nước tới các đối tượng (chủ thể và khách thể) tham gia hoạt động NK nhằm đảm bảo cho sự vận động của hoạt động NK hướng đến các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Nhà nước đặt ra trong những giai đoạn nhất định.

Nguồn ảnh: Interner

Tăng cường QLNN về NK là yêu cầu cấp thiết đối với mọi quốc gia trong quá trình mở cửa, HNKT quốc tế. Mục tiêu của việc QLNN về NK là để kiểm soát luồng hàng NK phục vụ cho phát triển và ổn định kinh tế - xã hội, tận dụng cơ hội của quá trình hội nhập để phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân. Trong bối cảnh hiện nay, tăng cường QLNN về NK trở thành xu thế tất yếu đối với mọi quốc gia trên thế giới, kể cả các nước phát triển, nếu muốn tận dụng tối đa cơ hội và đối phó với những thách thức của toàn cầu hóa (TCH).

Ví dụ, cuộc khủng khoảng tài chính và suy thóa kinh tế toàn cầu hiện nay, cũng như sự bế tắc của vòng đàm phán thương mại đa phương Doha đã thúc đẩy các nước tăng cường quản lý NK để bảo vệ thị trường, sản xuất trong nước. Cho dù đã cam kết và tham gia tự do hóa thương mại, nhưng các quốc gia vẫn tạo nên những hàng rào phi thuế quan. Hoa Kỳ, một nước có nền ngoại thương phát triển và cam kết tự do hóa thương mại toàn diện cũng đang áp dụng nhiều biện pháp để quản lý NK, đặc biệt là áp thuế bán phá giá, tự vệ… nhằm mục tiêu vực dậy nền kinh tế sau khủng hoảng.

Các quốc gia sử dụng chính sách và biện pháp quản lý NK không giống nhau và luôn được điều chỉnh cho phù hợp với những giai đoạn nhất định. Chẳng hạn, đối với các quốc gia gia nhập WTO, tăng cường quản lý NK là một trong những ưu tiên trong chính sách quản lý của nhà nước. Chính sách NK trong thời kỳ này phải hướng tới việc tận dụng cơ hội của mở cửa thị trường (cắt giảm thuế quan và phi thuế quan) để phục vụ cho nhu cầu tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân về những hàng hóa và dịch vụ trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất với chi phí cao hơn. Bên cạnh đó, chính sách NK cũng cần linh hoạt để tận dụng những ngoại lệ bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên, sức khỏe của người tiêu dùng. Chính sách NK được các nước áp dụng để hạn chế các hành vi trục lợi phi thương mại như buôn lậu, gian lận thương mại… Chính sách NK hợp lý có tác dụng đối với ổn định kinh tế vĩ mô như điều chỉnh CCTM, xử lý biến động bất thường của thị trường (chẳng hạn NK để bình ổn giá cả trong nước).

Như vậy, trong điều kiện HNKT quốc tế, các nước cần phải liên tục điều chỉnh chính sách NK phù hợp với những cam kết HNKT quốc tế. Các biện pháp hạn chế NK phải được áp dụng phù hợp với nguyên tắc thương mại tự do như không phân biệt đối xử, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, hàng rào thuế quan và phi thuế quan phải dần được dỡ bỏ. Các hiệp định thương mại tự do cũng khuyến khích các nước áp dụng các biện pháp NK để bảo vệ hợp lý sản xuất trong nước (tự vệ, chống bán phá giá), bảo vệ môi trường, sức khỏe con người. Tuy nhiên, những biện pháp này không được áp dụng với tính chất là những rào cản trá hình hạn chế thương mại, bảo hộ mậu dịch.

Như vậy, QLNN về NK là một hoạt động chủ động, tự giác của nhà nước (chính phủ) tác động vào toàn bộ quá trình NK nhằm khai thác cơ hội mở cửa thị trường để phát triển kinh tế - xã hội và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực từ quá trình này. Những cơ hội đó là khắc phục được sự thiếu hụt của nền kinh tế về công nghệ, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng trong nước chưa đáp ứng được. Thông qua NK, đặc biệt là NK cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, thay đổi trình độ công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Những tác động tiêu cực mà QLNN cần khắc phục là ổn định kinh tế vĩ mô, mất cân đối XK - NK, nhất là tình trạng nhập siêu, các biện pháp tự vệ để bảo vệ cho các ngành sản xuất trong nước, chống buôn lậu, kiểm soát chất lượng hàng NK, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, bảo vệ môi trường…

Nguồn: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III

 

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: