Tình hình hội nhập các FTA Email
Thứ tư, 01 / 02 / 2012

Từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước, dưới tác động của toàn cầu hóa, các liên kết và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ trên qui mô toàn cầu, khu vực và song phương, với các hình thức đa dạng và cấp độ hội nhập ngày càng sâu. Cùng với xu hướng liên kết đa phương toàn cầu, xu hướng liên kết khu vực và song phương ngày càng nổi trội, với những mối liên kết khu vực có mức độ chặt chẽ tăng dần: khu vực ưu đãi thuế quan (PTA), khu vực thương mại tự do (FTA), liên minh thuế quan, thị trường chung, cộng đồng kinh tế, liên minh kinh tế… hình thành nền kinh tế khu vực thống nhất (của một số nền kinh tế quốc gia hiện nay) với thiết chế Nhà nước cộng đồng khu vực (như mô hình EU và có thể tiến xa hơn EU).

Nguồn ảnh: Internet

Tổ hợp các xu hướng lớn đó đang thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế thế giới (cả về mặt sản xuất, thương mại và thể chế…), thúc đẩy quá trình hội nhập ngày càng sâu hơn các nền kinh tế quốc gia vào kinh tế khu vực và toàn cầu.

Một Hiệp định FTA (Free Trade Agreement) được ký kết để thiết lập khu vực thương mại tự do giữa hai hay nhiều nước, với các điều khoản có mức độ liên kết và ràng buộc chặt chẽ hơn các PTA về việc các nước tham gia dành cho nhau những ưu đãi về tiếp cận thị trường, về cắt giảm tiến tới xóa bỏ rào cản thuế quan và phi thuế…, trên nguyên tắc “nhân nhượng và đánh đổi”, phạm vi và mức độ cam kết tự do hóa sâu rộng hơn cam kết tham gia WTO (WTO +). Tuy phạm vi liên kết, hội nhập và mức độ tự do hóa là khác nhau, tùy theo nội dung thỏa thuận và cam kết trong các Hiệp định FTA, nhưng nhìn chung, sau khi hoàn thành lộ trình thiết lập FTA (trước tiên là cắt giảm thuế quan), các dòng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và vốn được tự do di chuyển giữa các nền kinh tế thành viên. Bản chất và mục tiêu chung của hội nhập các FTA là thực hiện tự do hóa thương mại, đầu tư ở mức cao hơn hội nhập WTO, và tăng cường các liên kết song phương, đa phương về cả kinh tế, chính trị, nhằm tối đa hóa các lợi ích của dân tộc về cả kinh tế, xã hội, chính trị và ngoại giao.

Trong các FTA thế hệ thứ nhất, FTA thế hệ thứ hai và đang xuất hiện FTA thế hệ thứ ba (như TPP), hình thức pháp lý của các điều ước quốc tế (đa phương và song phương) thiết lập khu vực thương mại tự do rất đa dạng. Tùy theo mức độ chặt chẽ và phạm vi của các liên kết được thỏa thuận mà các Hiệp định FTA có nhiều tên gọi cụ thể khác nhau (TIG, FTA, CECA, ERTA, CER, EPA, CEP, SEPA…), nhưng đều có chung bản chất pháp lý là thiết lập khu vực thương mại tự do. Với tính chất là một loại điều ước quốc tế về thương mại, các Hiệp định FTA được Chính phủ các nước (nhất là các cường quốc) sử dụng không chỉ làm công cụ để thực hiện mục tiêu chính sách thương mại mà còn làm công cụ để thực hiện điều chỉnh chiến lược thị trường quốc tế, thực hiện chiến lược cạnh tranh quốc tế (ở các cấp độ song phương, khu vực và toàn cầu) của quốc gia.

Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan thúc đẩy hình thành các FTA, bắt nguồn từ các lợi ích dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế.Sự phát triển mạnh mẽ và sôi động của các FTA trong những năm gần đây bắt nguồn từ các nhân tố chính trị chiến lược của các nước lớn.Các nước lớn, các nước phát triển trước là chủ thể đi đầu khởi động và thúc đẩy các FTA, lôi cuốn các nước nhỏ, phát triển sau cùng tham gia các FTA khu vực hoặc song phương.

Bước sang thế kỷ 21,cùng với xu thế chuyển dịch trung tâm kinh tế thế giới từ Tây sang Đông, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nổi lên trở thành khu vực phát triển nhanh và năng động nhất thế giới, quá trình liên kết quốc tế cũng có sự chuyển hướng mạnh mẽ từ liên kế đa phương sang liên kết khu vực và song phương, tạo sự “bùng nổ” các FTA song phương trên phạm vi toàn cầu. Một trong những căn nguyên của hiện tượng kinh tế mang tính toàn cầu đó là do tương quan sức mạnh giữa các cường quốc kinh tế mới nổi (Trung Quốc, Ấn Độ, Brazin…) và Hoa Kỳ đã có sự thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho Hoa Kỳ. Vai trò chi phối của Hoa Kỳ trong các tổ chức kinh tế có tính toàn cầu (WTO, IMF, WB…) đã giảm xuống tương đối. Để xác lập lại vai trò của mình trong các tổ chức kinh tế đa phương toàn cầu ở nấc thang trình độ phát triển cao hơn, Hoa Kỳ đã một mặt, cản trở tiến trình tự do hóa trong các vòng đàm phán đa phương trong khung khổ của WTO, mặt khác đẩy mạnh các liên kết song phương và khu vực theo phương thức FTA, nhất là với các nước Châu Á. Trong bối cảnh và tình thế đó, Trung Quốc (và cả Ấn Độ, Nhật Bản…) đã tìm cách thoát ra khỏi vòng kiểm tỏa của Hoa Kỳ tại các diễn đàn đa phương toàn cầu bằng cách khởi động và thúc đẩy “cơn sốt” FTA, mà đặc biệt là FTA song phương tại khu vực Châu Á, tạo hiệu ứng mạnh với toàn cầu. (Theo thống kê của WTO, tính đến 31/7/2010, trong nền thương mại toàn cầu đã có 424 PTA, trong đó có trên 380 Hiệp định FTA).

Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, cục diện FTA toàn cầu đang có những động thái mới.Hoa Kỳ đang điều chỉnh trọng tâm chiến lược cạnh tranh toàn cầu từ Tây sang Đông nhằm đẩy mạnh xuất khẩu để khắc phục các mất cân đối kinh tế vĩ mô và xác lập vị thế mới tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, tạo thế cân bằng địa lý của Hoa Kỳ với các cường quốc khác (Trung Quốc, Nhật Bản, LB Nga, Ấn Độ…) tại khu vực này. Hoa Kỳ đang chủ động thúc đẩy đàm phán, ký kết TPP với tham vọng làm trụ cột trong TPP và sử dụng FTA khu vực này làm bàn đạp tiến tới ký FTA song phương với một số đối tác chiến lược tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (trong đó có Việt Nam), sử dụng TPP làm công cụ điều chỉnh Chiến lược cạnh tranh toàn cầu từ Tây sang Đông. Trước động thái đó, Trung Quốc đã một mặt, tích hợp sức mạnh kinh tế của mình bằng cách ký kết với Đài Loan “Hiệp định khung hợp tác kinh tế giữa hai bờ eo Biển” (tháng 6/2010). Mặt khác Trung Quốc đã cùng với Nhật Bản thúc đẩy trở lại quá trình đàm phán FTA song phương Trung – Nhật và FTA Đông Á hoặc FTA Đông Á mở rộng. Cả Trung Quốc và Nhật Bản tuy chưa sẵn sàng đàm phán FTA với EU và Hoa Kỳ, nhưng cả hai lại đang thúc đẩy đàm phán FTA song phương với Ấn Độ. EU tuy chưa sẵn sàng đàm phán FTA với Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản, nhưng lại đang chủ động, tích cực thúc đẩy đàm phán FTA song phương với Ấn Độ, LB Nga và đã nỗ lực đạt tới ký kết Hiệp định khung về đối tác và hợp tác kinh tế với Việt Nam (ký tháng 9/2010), nhằm tạo bàn đạp để tăng cường liên kết kinh tế với ASEAN… Xu thế hướng Đông trong chiến lược FTA của các nước lớn đang rõ nét, tạo thuận lợi cho các nước ASEAN xác lập vai trò là trung tâm trong tăng cường liên kết khu vực theo mô hình ASEAN +, định hình một cấu trúc liên kết mới tại khu vực.

Theo kinh nghiệm của thế giới, mỗi nước khi tham gia các FTA, cần có chiến lược tổng thể tham gia FTA của quốc gia phù hợp với bối cảnh quốc tế và điều kiện của quốc gia trong từng thời kỳ. Tiến hành thử nghiệm và thận trọng từng bước mở rộng tham gia FTA. Xác định rõ tiêu chí lựa chọn đối tác ưu tiên đàm phán ký kết FTA và mục tiêu tham gia FTA, hướng tới lợi ích tối đa của dân tộc, đồng thời, xác định rõ cách tiếp cận chiến lược trong đàm phán, tham gia các FTA phù hợp với chiến lược bảo hộ sản xuất trong nước, phù hợp với vị thế của quốc gia trong cạnh tranh toàn cầu. Tích cực sử dụng và tận dụng các ưu đãi từ các FTA đã ký kết làm công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu của chính sách thương mại, thực hiện các bước điều chỉnh chiến lược thị trường quốc tế, thực hiện các bước điều chỉnh chiến lược cạnh tranh quốc tế, thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh tế phù hợp với bối cảnh mới và thúc đẩy cải cách trong nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia (sản phẩm, doanh nghiệp và toàn nền kinh tế). Chú trọng nâng cao sức “đề kháng” của nền kinh tế trong quá trình tham gia FTA, chủ động đối phó với những tác động bất lợi của các FTA đã ký kết, tham gia.Coi trọng công tác ngoại giao trong quá trình đàm phán ký kết các FTA cũng như trong giải quyết các tranh chấp trong thực hiện các FTA đã ký kết. Có lộ trình khôn khéo trong thiết lập quan hệ FTA khu vực với FTA song phương, quan hệ FTA với các cường quốc và với các nước nhỏ nhưng có quan hệ chính trị và ngoại giao đặc biệt…

Nguồn: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III

 

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: