Những ảnh hưởng của khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) đến Việt Nam Email
Thứ ba, 28 / 02 / 2012
Quá trình hướng tới hình thành Khu vực thương mại tự do giữa 10 quốc gia ASEAN và Trung Quốc (ACFTA)

Nhìn lại quá trình lịch sử, ý tưởng hình thành một ACFTA được đưa ra năm 2000 và đến năm 2002 Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc được ký kết. Tiếp sau đó, năm 2004 Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc được ký, năm 2007 hai bên ký Hiệp định Thương mại dịch vụ ASEAN – Trung Quốc và gần đây nhất, vào ngày 15/8/2009, là việc ký kết Hiệp định Đầu tư ASEAN – Trung Quốc. Ba Hiệp định được ký kết đã xác lập ba trụ cột chính cho một khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc, đem lại hành lang pháp lý vững chắc, tạo điều kiện thuận lợi cho sự lưu chuyển của các luồng vốn, công nghệ, lao động trong khu vực.

Nguồn ảnh: Internet

Về kim ngạch thương mại, năm 2008 giá trị xuất khẩu của khối ASEAN sang Trung Quốc ước tính vào khoảng 85,6 tỷ USD, trong khi giá trị nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc đạt gần 107 tỷ USD. Với 6,1 tỷ USD đầu tư, trong năm 2008, Trung Quốc đứng hàng thứ 8 trong số các nước đầu tư vào ASEAN, ngược lại đầu tư của 10 nước ASEAN vào Trung Quốc cũng lên tới 5,6 tỷ USD trong cùng thời kỳ. Riêng với Việt Nam, trong những năm qua, kim ngạch thương mại hai chiều luôn tăng trường ở mức 25%/năm. Năm 2008, kim ngạch thương mại Việt – Trung đạt trên 20,18 tỷ USD. Trung Quốc hiện đứng đầu trong số các nước nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam.

Cơ hội đối với doanh nghiệp Việt Nam

Sau khi được hình thành, ACFTA sẽ trở thành khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới với thị trường tiêu thị 1,9 tỷ dân. Đây sẽ là một thị trường chung, một cơ sở sản xuất thống nhất đang hình thành và chắc chắn sẽ biến những ưu thế “đơn lẻ” của mỗi nền kinh tế trở thành ưu thế chung của cả khu vực. Quá trình này về cơ bản sẽ mang lại những cơ hội to lớn, lâu dài cho mỗi quốc gia và từng doanh nghiệp ASEAN và Trung Quốc. Tuy nhiên, cơ hội đó được phát huy đến đâu còn phụ thuộc vào việc chúng ta đã sẵn sàng ra sao để đón đầu cơ hội và vượt qua thách thức mà ACFTA mang lại.

Đối với các doanh nghiệp trong nước, thách thức lớn nhất là khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh và đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp ASEAN và Trung Quốc trong tình hình mới. ACFTA sẽ mang lại cho mỗi doanh nghiệp cơ hội về thị trường, vốn, công nghệ nhưng cũng sẽ đòi hỏi sự đổi mới, điều chỉnh cấu trúc kinh doanh, cơ cấu doanh nghiệp, thay đổi phương thức kinh doanh truyền thống. Đây là một quá trình sàng lọc, chọn lựa khắc nghiệt và lâu dài. Chỉ những doanh nghiệp có khả năng thích ứng nhanh mới có thể tồn tại và phát triển, do đó các doanh nghiệp Việt Nam cần điều chỉnh lại bản thân mình cho phù hợp không sẽ bị sàng lọc.

Ảnh hưởng đối với thị trường Việt Nam khi hình thành ACFTA

Khi ACFTA hình thành, mặc dù triển vọng tăng cường xuất khẩu giữa Trung Quốc và ASEAN là rất lớn, song đối với Việt Nam, cơ cấu kinh tế và cơ cấu hàng hóa trao đổi hiện nay dẫn đến tình trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc tiếp tục phát triển theo hàng dọc, trong đó Việt Nam xuất khẩu nguyên liệu, nông lâm thủy sản và nhập khẩu hàng công nghiệp của Trung Quốc. Điều này sẽ bất lợi cho Việt Nam cả trong quan hệ thương mại cũng như trong những nỗ lực công nghiệp hóa nền kinh tế. Hơn nữa, cán cân thương mại giữa Việt Nam – Trung Quốc phát triển theo hướng Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc ngày càng tăng. Nếu như năm 2011, mức nhập siêu từ Trung Quốc là 200 triệu USD thì đến cuối năm 2008 đã tăng lên 11,1 tỷ USD, gấp 55 lần so với năm 2001. 7 tháng đầu năm 2009, mức nhập siêu từ Trung Quốc đã giảm 19,2% so với cùng kỳ năm 2008 nhưng vẫn đạt trên 5,9 tỷ USD. Do đó cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam phải xác định được các ngành nghề có thể sẽ chịu tác động tiêu cực lẫn tích cực từ ACFTA để khai thác lợi ích cũng như chủ động đối phó với các tác động tiêu cực của tự do hóa.

Nguồn: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: