Tác động kinh tế - xã hội của Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) Email
Thứ tư, 14 / 03 / 2012

Nhật Bản là một trong những đối tác chiến lược kinh tế quan trọng của Việt Nam, là một thị trường xuất khẩu lớn và là thị trường nhập khẩu quan trọng của nước ta. Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam và Nhật Bản được ký kết mở ra triển vọng cho quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Nhật Bản phát triển lên một tầm cao mới.

Nguồn ảnh: Dự an EU-Việt Nam MUTRAP III

Ngày 24/6/2009, Thượng viện Nhật Bản đã thông qua Hiệp định đối tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản (VJEPA). Như vậy, VJEPA chính thức được Quốc hội Nhật Bản thông qua và có hiệu lực kể từ ngày này. Trước đó, ngày 16/4, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 57/2009/QĐ-TTg, phê duyệt Hiệp định VJEPA ký tại Tokyo ngày 25/12/2008 cùng các phụ lục liên quan.

Các văn kiện Hiệp định VJEPA được ký kết đưa vào thực hiện gồm: Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (Hiệp định chính), Hiệp định thực thi (bao gồm các quy định về cơ chế triển khai các cam kết thuộc Hiệp định chính) và Tuyên bố chung về việc ký kết Hiệp định VJEPA. Hiệp định VJEPA là một thoả thuận song phương mang tính toàn diện bao gồm các nội dung cam kết về tự do hóa thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và các lĩnh vực hợp tác kinh tế khác giữa hai quốc gia. Hiệp định được xây dựng phù hợp với các chuẩn mực và nguyên tắc của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Hiệp định là một thỏa thuận cân bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của hai nước Việt Nam và Nhật Bản. Cùng với các thoả thuận kinh tế đã ký trước đó, Hiệp định VJEPA sẽ góp phần hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý, tạo ra môi trường ổn định, thuận lợi cho hoạt động thương mại và đầu tư giữa doanh nghiệp hai nước. Đây là một bước tiến ý nghĩa nhằm nâng tầm quan hệ kinh tế và chính trị giữa hai nước, phù hợp với mục tiêu chiến lược đã được Thủ tướng hai nước thống nhất trong chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng năm 2006.

Theo Hiệp định, trong thời gian 10 năm, Việt Nam và Nhật Bản sẽ cơ bản hoàn tất lộ trình giảm thuế để xây dựng một khu vực thương mại tự do song phương hoàn chỉnh. Theo đó, 94,53% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và 87,66% kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản sẽ được miễn thuế nhập khẩu. Các mặt hàng thủy sản, nông sản, dệt may, sắt thép, hóa chất, linh kiện điện tử sẽ có mức cam kết tự do hóa mạnh mẽ nhất. Cam kết về đầu tư và thương mại dịch vụ trong khuôn khổ Hiệp định bảo hộ, xúc tiến và tự do hóa đầu tư và WTO sẽ là cấu thành không tách rời của Hiệp định. Về vấn đề lao động, Nhật Bản cam kết dành cho Việt Nam một khoản vay ODA lãi suất thấp để mỗi năm đào tạo khoảng 200-300 y tá Việt Nam tại Nhật Bản. Sau khi tốt nghiệp, các y tá sẽ được làm việc lâu dài tại Nhật Bản. Phía Nhật cũng cam kết sẽ hỗ trợ xây dựng hệ thống kiểm định tay nghề và Hệ thống cấp chứng chỉ cho y tá và hộ lý Việt Nam. Trong vòng 1 năm kể từ khi ký kết VJEPA, hai bên sẽ nối lại việc đàm phán về di chuyển lao động nhằm tiếp tục cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường cho y tá, hộ lý và các ngành nghề khác của Việt Nam. Hiệp định cũng quy định một số chương trình hợp tác song phương quan trọng như xây dựng Trung tam vệ sinh an toàn thực phẩm, hài hòa tiêu chuẩn kỹ thuật, cải thiện môi trường kinh doanh, hợp tác về nâng cao năng lực trong các lĩnh vực du lịch, quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ, giao thông vận tải, sở hữu trí tuệ…

Đặc biệt, đây cũng là lần đầu tiên Chính phủ Nhật Bản khẳng định sẽ hợp tác chặt chẽ với Việt Nam để sớm công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường đầy đủ, xác lập quan hệ thương mại bình đẳng giữa hai nước. Song song với việc ký kết Hiệp định VJEPA, hai bên đã ký kết Biên bản ghi nhớ về việc Nhật Bản hỗ trợ Việt Nam phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất linh kiện của Nhật Bản đầu tư tại Việt Nam, đồng thời mở rộng cơ hội liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Nhật Bản trong lĩnh vực này. Hiệp định này sẽ có tác động về kinh tế, xã hội và một số các tác động khác tới Việt Nam.

Về khía cạnh kinh tế, việc ký kết Hiệp định VJEPA sẽ góp phần hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý, tạo ra môi trường ổn định, thuận lợi cho hoạt động thương mại và đầu tư giữa doanh nghiệp hai nước. Trên thực tế, quan hệ hopự tác giữa Việt Nam và Nhật Bản đã và đang phát triển mạnh mẽ trong hơn 35 năm qua. Năm 2010, kim ngạch song phương đã đạt 16,74 tỷ USD, tăng 21,7% so với năm 2009. Trong bối cảnh một số thị trường xuất khẩu chính của ta như Hoa Kỳ, EU đang bị ảnh hưởng do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, Hiệp định VJEPA sẽ là một xúc tác mạnh mẽ, kịp thời, giúp giữ vững mục tiêu thúc đầy xuất khẩu trong thời gian tới. Hàng hóa từ Nhật Bản, nhìn chung mang tính bổ sung, không cạnh tranh nhiều với hàng hóa sản xuất trong nước. Nhật Bản là nước nhập siêu lớn về nông sản, mặt hàng công nghiệp tiêu dùng như dệt may, giày da, thực phẩm chế biến trong khi Việt Nam lại là nước có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối về các sản phẩm này. Ngược lại, Việt Nam nhập khẩu từ Nhật Bản máy móc, thiết bị, công nghệ và nguyên liệu cho sản xuất. Trong những năm qua, thương mại hai chiều tăng trưởng mạnh và đều đặn, đạt trên 20%. Cán cân thương mại hai chiều luôn ở mức tương đối cân bằng. Trong bối cảnh đó, Hiệp định VJEPA là một nhân tố xúc tác quan trọng, thúc đẩy quan hệ thương mại song phương Việt Nam và Nhật Bản, giúp các doanh nghiệp, người tiêu dùng nước ta tiếp cận công nghệ nguồn, máy móc, trang thiết bị hiện đại từ Nhật Bản.

Về khía cạnh đầu tư, đầu tư trực tiếp (FDI) của Nhật Bản tại Việt Nam cũng đang được thực hiện với kết quả rất đáng kể. Các doanh nghiệp của Nhật Bản, trong đó có nhiều tập đoàn công nghiệp lớn, có uy tín đang mở rộng hiện diện của mình tại Việt Nam với quy mô đầu tư ngày một lớn. Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam tính đến hết năm 2010 hiện có 1397 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký 20,8 tỷ USD, đứng thứ 3 trong số các nước có đầu tư tại Việt Nam, xét về vốn thực hiện. Hiệp định VJEPA sẽ tạo ra khuôn khổ pháp lý đầy đủ và thuận lợi hơn nhằm thu hút và thúc đẩy hoạt động của các nhà đầu tư tại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh các doanh nghiệp Nhật Bản đang vươn sang các quốc gia khác ngoài Trung Quốc để tìm kiếm các điểm đến đáng tin cậy cho các khoản đầu tư trực tiếp. Ngoài ra, với việc ký kết Hiệp định VJEPA, ta đã thực sự có cơ hội để tham gia chuỗi cung ứng giá trị hàng hóa, dịch vụ trong khu vực ASEAN với sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp Nhật Bản. Đây là mục tiêu mang tính chiến lược để thu hút thêm đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các doanh nghiệp Nhật.

Về phát triển nguồn nhân lực, các cam kết giữa hai bên trong lĩnh vực di chuyển thể nhân, đặc biệt là các dự án mà Nhật Bản hứa sẽ hỗ trợ ta xét về dài hạn là hết sức có lợi. Các chương trình này bảo đảm uy tín và chất lượng lao động có kỹ năng cao của Việt Nam. Nếu thành công trên thị trường Nhật Bản, sẽ mở ra cơ hội thâm nhập vào thị trường các nước phát triển khác.

Về các tác động xã hội và các tác động khác, với các hoạt động hợp tác đa dạng trong khuôn khổ Hiệp định VJEPA, Nhật Bản và Việt Nam sẽ nâng cao hơn nữa sự hiểu biết, gắn bó và giao lưu giữa người dân, giới doanh nghiệp và nền văn hóa. Điều đó góp phần tạo nên mối quan hệ hợp tác hòa bình, hữu nghị trong khu vực. Tác động của VJEPA, xét trên rất nhiều góc độ, đều mang lại những kết quả tích cực đối với đời sống kinh tế, xã hội.

Cùng với các Hiệp định Đối tác Kinh tế (EPA) và các Hiệp định thiết lập khu vực mậu dịch tự do (FTA) song phương và khu vực, Hiệp định VJEPA sẽ hoàn tất chuỗi cung ứng cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp Nhật Bản.

Trong thời kỳ tự do hóa thương mại và liên kết kinh tế khu vực đang phát triển mạnh mẽ, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được giảm thiểu để thúc đẩy buôn bán giữa các nước, Việt Nam và Nhật Bản là những nước tích cực tham gia vào xu thế chung này. Bởi vậy, các doanh nghiệp hai nước càng có nhiều điều kiện thuận lợi để tìm kiếm những cơ hội hợp tác kinh doanh.

Nguồn: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III

 

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: