Vấn đề đầu tư trong FTA giữa Việt Nam và EU Email
Thứ hai, 26 / 03 / 2012

Một trong những đặc điểm của các FTA hiện đại gần đây là có bao gồm các quy định yêu cầu các thành viên thực hiện tự do hóa thương mại dịch vụ. Mặc dù hầu hết các cam kết cụ thể về dịch vụ đều chỉ cơ bản phản ánh mức độ mở cửa theo hiện trạng, qua đó ràng buộc mức độ mở cửa giành cho các nước thành viên, nhưng nhìn chung việc cắt giảm rào cản thương mại dịch vụ sẽ giúp gia tăng luồng đầu tư vào từ các nước được hưởng lợi từ sự tự do hóa này. Nguyên nhân chính của hiện tượng này là bởi cơ cấu thương mại dịch vụ và bản thân các ngành dịch vụ  thường là những ngành có tỷ lệ sinh lời cao.

Nguồn ảnh: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III

Tính năng động trong đầu tư được phân tích liên quan đến tự do hóa thương mại hàng hóa nói chung không áp dụng được cho ngành dịch vụ, vì phần lớn là các dịch vụ không mang tính thương mại (như cơ sở hạ tầng, sản xuất và phân phối năng lượng và nước, du lịch, vận tải và hậu cần, hầu hết dịch vụ tài chính và doanh nghiệp). Tính phi thương mại của những dịch vụ này nằm trong thực tế là phương thức cung ứng và tiêu dùng đặc biệt của những dịch vụ này đòi hỏi phải thành lập sự hiện diện thương mại tại nước tiếp nhận, hoặc di chuyển qua biên giới của người tiêu dùng hay người nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp, hay di chuyển tạm thời thể nhân ra nước ngoài.

Điều này có nghĩa là, ngoại trừ phương thức 1 (cung cấp qua biên giới) nhằm tiếp cận một thị trường khác, hầu như cần đầu tư trực tiếp vào thị trường mục tiêu. Trên thực tế, trong cả 4 phương thức cung cấp mô tả trong GATS , phương thức thứ ba (hiện diện thương mại) thường là quan trọng nhất theo quan niệm của công ty, vì hầu hết các dịch vụ đều đòi hỏi phải có sự hiện diện ổn định tại nước tiếp nhận để có thể vận hành dịch vụ đó và FDI thường là phương tiện duy nhất để một công ty dịch vụ mở rộng kinh doanh của mình sang các thị trường khác.

Vì lý do này, FDI trong ngành dịch vụ thường là loại tìm kiếm thị trường, với hàm ý đó, quy mô và khả năng thu lợi nhuận của mỗi thị trường mục tiêu là động lực thúc đẩy quyết định đầu tư của các nhà cung cấp dịch vụ thuộc các tập đoàn đa quốc gia (MNC). Vậy biến số tự do hóa dịch vụ được đưa vào mô hình phân tích FDI bằng cách nào? 

Trái ngược với tự do hóa thương mại hàng hóa thường ám chỉ việc giảm số thu tài khóa do xóa bỏ thuế, tự do hóa thương mại dịch vụ không mang hàm ý về bất cứ tổn thất tài chính nào đối với chính phủ nước tiếp nhận. Mặc dù vậy, đáng tiếc là ngành dịch vụ thường bị điều tiết nặng nề, thể hiện qua việc hạn chế mức FDI cao và các ngành dịch vụ lớn nhất thường thuộc độc quyền nhà nước và hiếm khi được tự do hóa trong bối cảnh của một và chủ yếu (đặc biệt ở các nước đang phát triển) nhằm ngăn ngừa người nước ngoài. Trên khía cạnh này, việc thành lập hiện diện thương mại, ám chỉ tự do hóa phương thức 3, thường khó đạt được vì nhiều lý do kinh tế chính trị khác nhau.

Ngoài ra, cần lưu ý rằng việc tự do hóa đơn giản phương thức 3 thường chưa đủ để khuyến khích FDI đổ vào ngành dịch vụ.Trên thực tế, hầu hết các đầu tư vào dịch vụ lớn nhất là kết quả của hoạt động sáp nhập và mua lại (M&A) qua biên giới. Trong lĩnh vực này, việc nới lỏng khung khổ pháp lý và quy định thường mang tính khích lệ hơn là tự do hóa giả tạo. Về khía cạnh này, nhiều ngành dịch vụ chiến lược (như năng lượng, viễn thông và ngân hàng) thường thuộc sở hữu nhà nước và trong trường hợp nước ngoài tiếp quản, cần phải có quyết định chính thức của chính phủ nước chủ nhà, điều này ám chỉ mức độ can thiệp cao vào toàn bộ quá trình tự do hóa này, vì thế không khuyến khích được các nhà đầu tư nước ngoài.

Một điểm đáng lưu ý nữa liên quan đến bản chất của quy định quản lý đối với thương mại dịch vụ, theo đó các rào cản thương mại trong lĩnh vực này có sự chênh lệch lớn giữa các nước khác nhau, và giải quyết được sự chênh lệch này trong ngắn hạn là điều vô cùng khó khăn. Trong hầu hết các trường hợp, mặc dù đã tự do hóa chính thức, một khung khổ quy định phức tạp và cực kỳ phiền toái có thể là những trở ngại lớn cho FDI đầu tư vào dịch vụ, nhất là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tuy nhiên, việc cải thiện ngành dịch vụ thường đóng vai trò là nam châm thu hút FDI, thậm chí cả với các FDI hướng vào ngành chế tạo. Lý do nằm trong các lợi ích kinh tế gắn với phát triển ngành dịch vụ (cải tiến công nghệ, tăng hiệu quả sản xuất...).  

Phân tích theo kinh nghiệm về FTA Hoa Kỳ và FTA châu dường như ủng hộ việc ký kết những hiệp định này. Miroudot và Lesher đã phân tích tác động của các quy định về dịch vụ và đầu tư trong các FTA, kết luận rằng việc kết hợp tự ho hóa thương mại và đầu tư dường như có tác động lớn tới luồng FDI vào, nhất là trong trường hợp các FTA bắc-nam, vốn áp dụng các quy định đầu tư nghiêm ngặt điển hình. Trong bối cảnh một FTA bắc-nam như giữa EU-Việt Nam, việc đưa vào một chương về đầu tư độc lập cùng với mở cửa hơn nữa ngành dịch vụ, sẽ thu hút thêm FDI.

Việc mở cửa dần thị trường theo chính sách Đổi Mới và Việt Nam gia nhập WTO và các hiệp định thương mại ưu đãi khác đã thúc đẩy không ngừng việc mở cửa ngành chế tạo, mà cho tới năm 2009 vẫn đứng đầu về đầu tư FDI. Ngược lại, ngành dịch vụ (trừ một vài phân ngành không mang tính chiến lược như khách sạn và nhà hàng, bất động sản) vẫn phát triển chậm cả về mức độ mở cửa và giá trị đầu tư FDI. Điều này cho thấy rõ, so với tăng trưởng theo hướng đi lên của ngành dịch vụ (năm 2009 chiếm tới 44% GDP, tăng 11% so với năm 2008), tiềm năng to lớn của của ngành dịch vụ Việt Nam trên khía cạnh thu hút nhà đầu tư nước ngoài.

FDI vào dịch vụ đi liền với giới hạn tiếp cận thị trường nêu trong biểu cam kết WTO của mỗi nước là dưới tên gọi tự do hóa “phương thức 3” (hiện diện thương mại)  ám chỉ hiện diện trực tiếp của nhà đầu tư tại nước tự do hóa, mô hình cổ điển của FDI. Đáng tiếc là, cả cam kết WTO của Việt Nam và việc mở cửa đơn phương của nước này ở cấp trong nước không cho phép (hay chí ít không đưa ra những điều kiện về quy định cần thiết) về việc tham gia của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vào các ngành hấp dẫn nhất. Danh sách ngành và phân ngành mà châu Âu quan tâm thì vô kể, vì tính đa dạng và vô số của ngành dịch vụ châu Âu thực sự có thể bao hàm mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, chỉ có một số ngành đáng lưu ý:

•    Dịch vụ tài chính: Trên thực tế, ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán là những ngành châu Âu có tiềm năng xuất khẩu cao hơn, vì có thể thấy từ mức độ đầu tư vào các nước thân thiện với dịch vụ tài chính như Hồng Công và Xing-ga-po. Đối với Việt Nam, chỉ 6% dân số sở hữu tài toàn khoản ngân hàng, và thường thiếu vốn để đầu tư mở rộng kinh doanh (nhất là tại khu vực nông thôn), các nhà đầu tư châu Âu có thể nhận ra đây là một thị trường có sức hấp dẫn cao.

•    Phân phối: Thông thường với cộng đồng các nhà đầu tư Pháp, nhất là trong lĩnh vực thực phẩm, thị trường phân phối ở Việt Nam là ưu tiên hàng đầu đối với các nhà đầu tư châu Âu.

•    Nhượng quyền kinh doanh và bán lẻ: Tầng lớp trung lưu không ngừng phát triển sẽ là động lực thúc đẩy nhu cầu cao hơn về sản phẩm chất lượng trung bình và cao. Theo đó, các thương hiệu châu Âu, châu Á và Bắc Mỹ sẽ bắt đầu tìm kiếm các cơ hội nhượng quyền kinh doanh  và bán lẻ tại Việt Nam.

•    Viễn thông: Thị trường viễn thông Việt Nam có tiềm năng thu hút FDI từ châu Âu cao nhất do hội tụ nhiều nhân tố (trình độ của các công ty viễn thông châu Âu, tiềm năng phát triển không ngừng của thị trường…, công nghệ liên tục phát triển). Ngành này đã phần nào tự do hoá và tự do hoá cũng có thể hút thêm FDI đầu tư vào ngành công nghệ cao.

•    Các dịch vụ môi trường: Mối quan tâm về biến đổi khí hậu ngày càng tăng và tình trạng ô nhiễm cao của đô thị Việt Nam sẽ thu hút các ngành dịch vụ môi trường cao (như xử lý rác thải, tư vấn).

•    Dịch vụ kinh doanh: Mặc dù ngành này đã tự do hoá, sự hiện diện của nhà đầu tư châu Âu sẽ là thúc đẩy nhu cầu về các công ty dịch vụ kinh doanh châu Âu. Trên hết, dân số phát triển và thu nhập tăng lên sẽ làm tăng nhu cầu về kiểu dịch vụ này.

•    Giao thông vận tải: Ngành giao thông vận tải cũng hấp dẫn nhất đối với các công ty EU do tình trạng kém phát triển của ngành này ở Việt Nam và khả năng thu lợi nhuận cao trong kinh doanh. Đáng tiếc là, giao thông vận tải vẫn phụ thuộc nhiều vào sự phát triển song song của cơ sở hạ tầng vật chất như đường xá, cầu cảng, sân bay.  

•    Nghiên cứu ứng dụng: Trường hợp Ma-lai-xi-a cho thấy tiềm năng của ngành này, cả trên khía cạnh FDI, cũng như xét từ tầm quan trọng kinh tế sâu xa hơn nữa. Ma-lai-xi-a đã tự do hoá khía cạnh nghiên cứu phát triển cách đây 20 năm, sau đó trở thành một trong những quốc gia tiên tiến nhất khu vực. Nghiên cứu phát triển và công nghệ sinh học trải qua nhiều năm đã trở thành lực đẩy phía sau “sự thần kỳ Ma-lai-xi-a” và là động lực tăng trưởng của đất nước này, thúc đẩy sự phát triển của mọi ngành kinh tế khác.

Thị trường Việt Nam là một trong những thị trường hấp dẫn nhất của FDI cho dù chưa có bất kỳ hiệp định thương mại tự do nào. Câu hỏi cần giải đáp là liệu việc ký một hiệp định thương mại tự do với EU có mang lại thêm luồng đầu tư đổ vào cả từ EU lẫn từ các nước thứ ba, ngành nào sẽ được những đầu tư này hướng tới và liệu việc tăng đầu tư có làm tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam không. Xét từ góc độ này, Việt Nam đang nhận được lượng FDI lớn, nhưng dường như chất lượng đầu tư vẫn còn thấp.

Việt Nam sẽ được lợi nhiều từ một hiệp định thương mại tự do với EU, cả trên khía cạnh thương mại lần đầu tư tăng cao. Theo một phân tích định tính, có vẻ như Việt Nam sẽ thu được lợi ích lớn nhất (không chỉ liên quan đến khối lượng và chất lượng FDI, mà còn cả những lợi ích kinh tế chung) từ tự do hoá dịch vụ.

Tính cạnh tranh của ngành chế tạo của Việt Nam là quá rõ ràng. Sự kết hợp của lao động giá rẻ với tiếp cận thị trường tự do của khu vực ASEAN cộng cho phép Việt Nam trở thành một trung tâm xuất khẩu tiềm năng của toàn khu vực. Một hiệp định thương mại tự do với EU không chỉ tăng tỷ trọng của công ty châu Âu đầu tư vào Việt Nam, mà còn mang lại thêm lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam. Những lợi ích này là việc tăng sức hút của Việt Nam với tư cách là cơ sở sản xuất và xuất khẩu (hàng rẻ và tốt hơn từ châu Âu; thị trường mở rộng hơn với 3,5 tỷ dân; tăng chuyển giao công nghệ cho Việt Nam), những điều này quay trở lại sẽ thu hút nhiều đầu tư có chất lượng tốt hơn nữa từ trong và ngoài khu vực FTA.

Mặc dù FDI vào khu vực chế tạo có khả năng tăng lên, dường như Việt Nam sẽ còn thu được lợi ích lớn hơn từ tự do hoá mang tính ưu đãi một số ngành dịch vụ của nước này. Những lợi ích này không chỉ tới từ tác động kinh tế to lớn do tự do hoá dịch vụ gây ra, mà còn tới dưới hình thức FDI của EU. Trên thực tế, tỷ trọng xuất khẩu cao của ngành dịch vụ EU dường như rất phù hợp với nhu cầu ngày càng tăng về cải thiện năng lực sản xuất của Việt Nam, và rộng hơn nữa, là phát triển theo hướng các tiêu chuẩn phù hợp với các nước có thu nhập trung bình, vốn thường tăng trưởng dựa trên một ngành dịch vụ năng động. Mặc dù có những tính toán này, kinh nghiệm dường như cho thấy kinh tế chính trị của tự do hoá dịch vụ đang khiến cho việc tự do hoá thương mại dịch vụ trên cơ sở ưu đãi trở nên khó khăn. Một giải pháp có thể là sử dụng FTA để thúc đẩy cải cách quy định và kinh tế trong nước như đã diễn ra trong nhiều FTA bắc-nam.

Nguồn: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III

 

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: