FTA Việt Nam – EU và tác động dự kiến đến xuất nhập khẩu Việt Nam Email
Thứ ba, 17 / 04 / 2012

Tác động đến nhập khẩu
Ngành ô tô của Việt Nam hiện vẫn đang ở giai đoạn phát triển sơ khai ban đầu với sản lượng chỉ đạt 25.480 chiếc tính tại thời điểm năm 2009. Nếu so với mức xuất xưởng 13.790.994 xe năm 2009 của Trung Quốc, có thể thấy ngành ô tô hiện chưa đóng vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp ở Việt Nam. Đối với ngành ô tô, việc cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan của Việt Nam sẽ ảnh hưởng đến nhập khẩu phụ tùng từ châu Âu và có tác động nhất định đến lượng FDI.

Nguồn ảnh: Internet

Xét từ góc độ nhập khẩu, do chi phí vận chuyển và do khoảng cách rất gần với các cơ sở sản xuất cạnh tranh, nên việc cắt giảm thuế nhập khẩu với ngành này có thể sẽ làm gia tăng nhập khẩu các xe đã lắp ráp sẵn từ châu Âu, Nhưng kết quả cuối cùng sẽ phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng ô tô của người tiêu dùng ở Việt Nam cũng như phụ thuộc vào chính sách trong nước của Chính phủ có thuận lợi hay không. Tương tự như vậy, phụ tùng và thiết bị thay thế có thể được nhập khẩu số lượng lớn từ các nhà sản xuất châu Âu. Mặt hàng phụ tùng, thiết bị thay thế trong ngành ô tô có độ co giãn về giá khá lớn, vì vậy theo lý thuyết thì việc cắt giảm thuế nhập khẩu có thể có tác động đối với xuất khẩu. Tuy vậy, nếu ngành trong nước không thực sự mạnh trong khi các nhà đầu tư châu Âu không đặt cơ sở sản xuất ở Việt Nam, nên không tạo thêm nhu cầu đối với hàng phụ tùng, linh kiện ở Việt Nam, thì việc giảm thuế cũng chỉ tạo ra ảnh hưởng rất nhỏ đối với nhập khẩu linh kiện mà thôi. Đối với hàng phụ tùng, linh kiện thì yếu tố ảnh hưởng chính là nhu cầu còn nhỏ và lượng đầu tư vào ngành ô tô Việt Nam còn thấp.

Chính những yếu tố này làm hạn chế tối đa tác động của cắt giảm thuế trong ngành này.FTA sẽ có ảnh hưởng rất ít đối với FDI vào ngành ô tô.Các nhà sản xuất ô tô châu Âu chưa coi Việt Nam là công xưởng sản xuất để phục vụ khu vực thị trường ASEAN. Chỉ xét riêng thuế nhập khẩu, mức bảo hộ cao được dành cho các nhà sản xuất trong nước, kết hợp với lộ trình giảm thuế song song tại các thành viên ASEAN và các thành viên ASEAN+ khác, thì có thể thấy được rằng thị trường Việt Nam có khả năng xuất khẩu ô tô với mức giá hết sức rẻ sang khu vực châu Á. Ngoài ra, lao động giá rẻ sẵn có ở Việt Nam cũng được coi là một nhân tố quan trọng. Song, trong thực tế, ưu đãi thuế và lao động giá rẻ vẫn chưa đủ để thu hút đầu tư vào ngành sản xuất chế tạo ô tô. Những điểm yếu phân tích ở trên (cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu công nghiệp phụ trợ, thiếu công nghệ) đã hạn chế các nhà đầu tư nước ngoài, làm họ không chọn Việt Nam là địa điểm đầu tư.

Theo đó, việc cắt giảm thuế nhập khẩu với máy móc và phụ tùng, linh kiện sẽ có thể tạo thuận lợi cho dòng đầu tư của châu Âu vào Việt Nam, nhưng riêng yếu tố này thôi thì cũng chưa đủ.

Trong giai đoạn 2004-2009 kim ngạch nhập khẩu hàng năm của Việt Nam đối với hàng điện tử tăng lên ở mức trung bình là 33,6%. Từ mức kim ngạch 2,6 tỉ USD năm 2005, sau 5 năm kim ngạch mặt hàng này đã tăng gấp 3 lần vào năm 2008 với giá trị đạt 7,6 tỷ USD. Từ khía cạnh xuất khẩu, năm 2009 Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu 2,6 tỉ mặt hàng máy tính và linh kiện. Thị trường xuất khẩu chính trong năm 2009 gồm: các nước EU (47%), Ả-rập Xê-út (14%), Bra-xin (8%), Tiểu vương quốc Ả-rập (7%), Ca-na-đa (5%), Đài Loan (4%) và Hàn Quốc (2%). Đối với ngành điện tử, kết quả phân tích ngành một lần nữa khẳng định lập luận là cắt giảm thuế sẽ có tác động đáng kể đối với cả lượng và giá cả của các mặt hàng điện tử và linh kiện nhập khẩu từ châu Âu. Cụ thể, cắt giảm thuế nhập khẩu sẽ tương đương với cắt hẳn chi phí vận chuyển từ châu Âu và tạo ra lợi thế cho các nhà xuất khẩu châu Âu khi cạnh tranh với các đối thủ từ châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc là những nước hiện đang có lợi thế từ khoảng cách gần và thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt có mức thấp hơn.

Trong một thời gian dài Việt Nam liên tục gia tăng nhu cầu đối với máy móc có chất lượng cao, hay nói cách khác là đã phụ thuộc nặng nề vào nhập khẩu mặt hàng này. Trong 2008, Việt Nam đã nhập khẩu 11,1 tỷ USD hàng máy móc. Hàng máy móc nhập khẩu từ EU có giá trị 1,5 tỉ USD, chiếm 14% tổng nhập khẩu vào Việt Nam. Trung Quốc có thị phần hàng nhập khẩu lớn nhất với giá trị 2,75 tỉ USD xuất khẩu sang Việt Nam. Trong lĩnh vực máy móc, việc cắt giảm hơn nữa thuế suất vốn đã rất thấp sẽ không làm gia tăng kim ngạch nhập khẩu một cách đáng kể. Xét từ khía cạnh khác, Việt Nam có thể thu lợi từ FDI tăng lên từ phía các nhà sản xuất châu Âu khi họ quyết định đầu tư sản xuất máy móc ở Việt Nam. Ngành công nghiệp máy móc trong nước phát triển kèm theo tốc độ tăng trưởng kinh tế chung khá cao ở Việt Nam có thể tạo nên tác động lan truyền đối với các ngành công nghiệp phụ trợ, vốn là những ngành hiện còn đang còn thiếu. Chất lượng cao của các sản phẩm châu Âu sẽ giúp các sản phẩm này có chỗ đứng quan trọng tại thị trường Việt Nam, và có khả năng mở rộng ra cả các nước láng giềng khác như Lào và Căm-pu-chia.

Hiện nay, ngành ngân hàng của Việt Nam bao gồm 5 ngân hàng thương mại nhà nước (Vietcombank, VietInBank, BIDV, Agribank, và Ngân hàng nhà Mêkông), 40 ngân hàng thương mại cổ phần (có 11 ngân hàng có nhà đầu tư nước ngoài), 6 ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài (HSBC, Standard Chartered, ANZ, Shinhan Vietnam Bank Ltd và Hong Leong Bank Vietnam Ltd), 45 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 55 văn phòng đại diện của các ngân hàng nước ngoài, và 5 ngân hàng liên doanh. Ngành ngân hàng được coi là một trong những ngành trọng tâm được yêu cầu tự do hóa, mở cửa dịch vụ hơn nữa trong FTA với EU. Ít khả năng xảy ra trường hợp có xuất khẩu lớn hoặc FDI từ châu Âu tăng nhanh vào ngành ngân hàng, đặc biệt là trong phân đoạn dịch vụ ngân hàng bán lẻ mà hiện nay các ngân hàng Việt Nam đã chiếm lĩnh.

Lý do chính để có nhận định này là do Việt Nam không phải là thị trường hấp dẫn đối với các ngân hàng châu Âu, vốn là các ngân hàng không có hiện diện thương mại phổ biến trong khu vực, với tư cách là các ngân hàng có mặt sau thì các ngân hàng châu Âu cũng sẽ không thể cạnh tranh được với các ngân hàng nội địa, vốn có lợi thế vì đã có mặt tại mọi địa bàn ở Việt Nam. Tuy nhiên, sự hiện diện của các văn phòng đại diện hoặc các chi nhánh của các ngân hàng châu Âu nhằm phục vụ các khách hàng châu Âu có thể sẽ gia tăng. Mặt khác, tự do hóa hơn nữa giao dịch dịch vụ ngân hàng qua biên giới (Phương thức 1), không tạo ra các tác động đáng kể nào, đồng thời điều này cho phép các cá nhân và tổ chức Việt Nam tiếp cận được với thị trường ngân hàng châu Âu mà không cần đến các loại hình hiện diện thương mại của các ngân hàng châu Âu thành lập tại Việt Nam. Trong bối cảnh thực hiện tự do hóa trong khung khổ ưu đãi đặc biệt trong FTA giữa Việt Nam với EU, EU có thể yêu cầu Việt Nam tuân thủ theo các chuẩn mực quốc tế về ổn định tài chính.

Việc nâng cao khung khổ quy định quản lý nhà nước của Việt Nam theo yêu cầu của EU có thể sẽ tạo ra tác động quan trọng nhất từ FTA này, tương tự như Hiệp định BTA với Hoa Kỳ ký 10 năm trước đây, được coi là đã mở ra cánh cửa để Việt Nam gia nhập WTO. Cũng có thể phát sinh những tác động tiêu cực nhất định nếu thực hiện tự do hóa tài khoản vốn trong khi chưa thực hiện các quy định quản lý thận trọng cần thiết hay xây dựng hệ thống an toàn tài chính để ngăn chặn khủng hoảng. Lý thuyết kinh tế chính trị cũng như kinh nghiệm thực tiễn đã cho thấy nếu thực hiện mở cửa hoàn toàn lĩnh vực dịch vụ tài chính cho cạnh tranh bên ngoài và với luồng vốn nước ngoài thì Việt Nam sẽ trở nên mẫn cảm hơn với các cú sốc tài chính bên ngoài, và các tác động này chỉ có thể được triệt tiêu nếu Việt Nam có một hệ thống khung khổ quản lý và chính sách vĩ mô thực sự mạnh mà thôi.  Như vậy, trong khung khổ FTA nên suy nghĩ sâu sắc về việc cân đối giữa mức độ cho phép di chuyển vốn tự do với tiến độ thực hiện các chương trình nâng cao hệ thống an toàn tài chính tiền tệ tại các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Tác động tới một số ngành xuất khẩu

Ngành dệt may, một trong những ngành có quy mô lớn nhất ở Việt Nam (sử dụng hơn 2 triệu lao động, các doanh nghiệp hầu hết là doanh nghiệp nhà nước, tập trung ở khu vực Đông Nam Bộ - 58% - và ở vùng đồng bằng sông Hồng – 27%) có tỷ trọng xuất khẩu cao: trên 65% sản lượng được xuất khẩu sang thị trường EU và Nhật Bản. Xuất khẩu quần áo có mức tăng ổn định trong giai đoạn 2005-2008 (tăng hàng năm 32%) và chịu sụt giảm đáng kể vào 2009 (giảm 10%) do sụt giảm nhu cầu (và giảm giá) diễn ra sau khủng hoảng kinh tế. Giá vật liệu và lãi suất tăng cao đã làm suy giảm sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam. Khó khăn gặp phải khi xuất khẩu sang thị trường EU và Hoa Kỳ đã buộc các nhà sản xuất Việt Nam phải tìm đến các thị trường chuyên biệt như Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Đông, châu Phi và Đông Âu.

Ngoài ra, do thuế nhập khẩu của Nhật Bản áp dụng với hàng nhập khẩu từ Việt Nam giảm xuống theo cam kết thực thi FTA ASEAN-Nhật Bản, nên trong 2009 hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản tăng tới 25%. FTA ASEAN với các đối tác cộng cũng giúp giảm tác động tăng giá chi phí nguyên liệu đầu vào được nhập khẩu từ Nhật Bản và Hàn Quốc. Ngoài những tác động tiêu cực từ quốc tế, ngành dệt may cũng gặp nhiều thách thức từ phía xuất khẩu: trong thời gian tới sự hiện diện ngày càng gia tăng của hàng dệt may có xuất xứ từ Trung Quốc, Ấn Độ, Pa-kít-xtan và Băng-la-đét có lẽ sẽ là thách thức quan trọng đối với Việt Nam. Bên cạnh những lợi thế khác, việc ký kết FTA với EU sẽ làm giảm thuế nhập khẩu hiện hành là 12% về 0% do EU áp dụng với hàng xuất khẩu của Việt Nam vào khu vực này. Việc cắt giảm thuế này sẽ đem lại lợi ích lớn nhất đối với 5 mặt hàng xuất khẩu (Bộ quần áo nam và nữ - tương ứng là 285 triệu USD  và 233 triệu USD; áo choàng nam và nữ - tương ứng 211 triệu USD và 207 triệu USD; và  áo len với trị giá 166 triệu USD). Dựa trên số liệu 2009, việc EU xóa bỏ thuế quan sẽ giúp tăng xuất khẩu 5 nhớm mặt hàng nêu trên với mức tăng trên 20%.

Ngành giày dép có sản lượng chiếm 40% tổng giá trị sản xuất công nghiệp (với hơn 500 doanh nghiệp và 1 triệu lao động) đồng thời cũng là ngành hàng xuất khẩu chủ chốt của Việt Nam (10% tổng kim ngạch xuất khẩu, Việt Nam là một trong 10 nước xuất khẩu hàng đầu mặt hàng này trên thế giới). Tại EU, Việt Nam là đối tác xuất khẩu lớn thứ 2, đứng sau Trung Quốc (4,5 tỷ USD năm 2008; năm 2009 giá trị xuất khẩu đạt 3,6 tỷ, giảm xuống 20%; Trung Quốc xuất khẩu 10,5 tỷ, Ấn Độ và In-đô-nê-xi-a đều có giá trị xuất khẩu khoảng 1,5 tỷ); xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu tập trung vào da chất lượng cao (48%, 2,3 tỷ USD năm 2008) và giày thể thao sản xuất cho các thương hiệu của Hoa Kỳ và EU; gần đây một số doanh nghiệp Việt Nam đã tập trung vào đáp ứng thị trường trong nước thông qua đầu tư thành lập nhiều phòng thiết kế mẫu chuyên nghiệp. Đồ thị về tỷ trọng nhập khẩu hàng giày dép của EU từ Việt Nam trong giai đoạn 2004-2008 có hình “chữ U” (11% năm 2004, 9,3% năm 2006 và 10,5% năm 2008).

Sự sụt giảm trong những năm 2005 và 2006 nhiều khả năng là hậu quả của việc EU áp thuế chống bán phá giá với giày mũ da (ngay cả trong trường hợp thuế chống bán phá giá chỉ áp dụng cho năm 2006 thì từ năm cũng đã chịu ảnh hưởng từ “tác động tuyên bố” vì thủ tục này đã diễn ra từ 2005); trong giai đoạn này, hàng xuất khẩu của Việt Nam một phần được chuyển hướng sang Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong giai đoạn này Trung Quốc và các đối thủ cạnh tranh khác đã gia tăng được thị phần của họ tại EU (Trung Quốc: từ 12,1% năm 2004 lên 21,1% năm 2009; Ấn Độ tăng 0,6%, In-đô-nê-xi-a tăng 0,5%): năm 2009 khủng hoảng kinh tế tác động đến thị phần của Việt Nam (giảm 1,1% thị phần tại EU) tiêu cực hơn nhiều so với Trung Quốc (tăng 1,5% thị phần). Xuất khẩu giày dép da của Việt Nam dễ chịu tác động từ các cú sốc bên ngoài hơn so với hàng xuất khẩu của Trung Quốc: điều này được chứng minh qua xu hướng xuất khẩu từ 2006 đến 2009 là giai đoạn tiếp nối sau giai đoạn áp dụng thuế chống bán phá giá.

Thuế suất bình quân gia quyền EU áp dụng với hàng giày dép của Việt Nam hiện tại là 12,4%: tuy nhiên, thuế nhập khẩu giày dép da sau khi đã cộng thuế chống bán phá giá là 17%. Đánh mất thị phần và khả năng chịu tác động còn kém từ cú sốc bên ngoài chính là những vấn đề quan trọng liên quan đến hàng giày dép xuất khẩu của Việt Nam có thể giải quyết được bằng việc ký kết FTA: theo kết quả mô phỏng bằng SMART (Ngân hàng Thế giới), thì xuất khẩu các sản phẩm giày dép sẽ có các mức tăng trưởng từ 7% đến 21%; ngoài ra còn phải tính thêm tác động từ việc chấm dứt áp dụng thuế chống bán phá giá cũng sẽ giúp tăng khoảng 14-16%.

Nguồn: Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III
Tin cũ hơn: